MỘT SỐ KINH NGHIỆM KHI THỰC HIỆN TIẾN TRÌNH DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”

Chủ nhật - 31/12/2017 08:28
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
    Tình huống này do giáo viên căn cứ vào mục tiêu bài học, đơn vị kiến tức cần tìm hiểu, đối tương học inh và điều kiện cơ sở vật chất để chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh. Tình huống xuất phát có thể lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề một cách khoa học và thích hợp. Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ. Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể). Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học, chính vì vậy mà câu hỏi có vấn đề cần phải phù hợp với trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò của học sinh. Việc gây mâu thuẫn trong nhận thức sẽ góp phần chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức. Câu hỏi có vấn đề giáo viên đưa ra phải là câu hỏi "mở" tuyệt đối không được dùng câu hỏi "đóng"(trả lời có hoặc không). Tình huống càng hấp dẫn, càng gây được sự tò mò, hào hứng của học sinh, càng kích thích được tinh thần, nhu cầu khám phá và muốn khám phá tri thức của học sinh. Đây cũng là cái đích mỗi giáo viên mong muốn.
 Bước 2: Bộc lộ quan điểm ban đầu của học sinh
     Hình thành biểu tượng ban đầu từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh là bước quan trọng, là đặc trưng của phương pháp BTNB.
    Giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật, hiện tượng mới,...Ở bước này học sinh được tự do, thoải mái đưa ra ý kiến, biểu tương, hiểu biết của mình, việc các em đưa ra ý kiến, biểu tương, hiểu biết của mình một cách ticgs cực chứng tỏ các em đã "nhập cuộc" vào bài học. Dù vậy giáo viên cũng phải quan tâm hơn đến các em học sinh học yếu, nhút nhát, chưa mạnh dạn, tự tin,... để giúp các em làm từng bước tiếp cận với cách học mới. Giáo viên cho học sinh trình bày ý kiến, biểu tương, hiểu biết của mình  bằng nhiều hình thức như: Viết, vẽ, nói,...Đây cũng là một đặc trưng nổi trội của phương pháp "Bàn tay nặn bột". Học sinh có thể viết ra những ý kiến suy nghĩ của mình  về sự vật, hiện tượng mới,...mà các em đang tìm hiểu. Các em cũng có thể trình bày bằng vẽ hình ảnh, mô hình hay sơ đồ,...rồi chú thích bằng viết hay bằng lời nói của mình.
    Giáo viên không nhất thiết phải chú ý tới các quan niệm đúng, cần phải chú trọng đến các quan niệm sai. Giáo viên cần khéo léo chọn lựa một số quan niệm ban đầu khác biệt trong lớp để giúp học sinh so sánh, từ đó giúp học sinh đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học. Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các quan niệm ban đầu tiêu biểu trong số hàng chục quan niệm của học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học và mục tiêu bài học, đồng thời điều khiển sự thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có một sự chuẩn bị kĩ lưỡng, phải dự kiến được những tình huuongs có thể xẩy ra, phải có một tư duy nhanh nhạy để phân tích và nắm bắt vấn đề. Việc chọn lựa các quan niệm ban đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của học sinh gặp khó khăn.
     Quan điểm ban đầu của học sinh thường là các quan niệm hay khái quát chung về sự vật, hiện tượng, có thể sai hoặc chưa chính xác về mặt khoa học, hay còn ngây thơ, ngờ nghệch, vụng về,... Giáo viên nên khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình; giáo viên phải biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm sai của học sinh, không nên có nhận xét đúng - sai sau khi học sinh trình bày. Biểu tượng ban đầu càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với ý kiến đúng thì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh và phải xem đó là mấu chốt của vấn đề. Do đó, ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện được.         
 
     Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu.
   Đề xuất câu hỏi: Từ những khác biệt phong phú về biểu tượng ban đầu, giáo viên giúp học sinh đề xuất câu hỏi. Giáo viên cần khuyến khích học sinh tích cực đặt câu hỏi vì khi đặt được câu hỏi là khi đó các em đã tư duy, đã có sự động não,...Giáo viên cần phải khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt trong lớp để từ đó, học sinh đặt câu hỏi có liên quan đến bài học để giúp học sinh so sánh. Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài. Đây là một bước khá khó khăn vì giáo viên cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiêu biểu trong số hàng chục biểu tượng của học sinh một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học, đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của học sinh nhằm giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học bám vào mục tiêu cảu bài. Việc chọn lựa các biểu tượng ban đầu không tốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của học sinh gặp khó khăn. Chắc chắn sẽ có rất nhiều câu hỏi được học sinh đề xuất, giáo viên cần phải biết lựa chọn những câu hỏi chung được nhiều học sinh đưa ra hướng vào trọng tâm của đơn vị kiến thức đang được khám phá. các câu hỏi thắc mắc đó sẽ được giáo viên ghi lên bảng.         
     Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi thắc mắc được đề xuất, giáo viên nêu lại câu hỏi cho học sinh và đề nghị các em đề xuất phương án giải quyết. Chắc chắn sẽ có nhiều phương án được đưa ra tìm tòi - nghiên cứu,  tìm câu trả lời cho các câu hỏi thắc mắc. Sau khi học sinh đề xuất phương án, giáo viên nêu nhận xét và khéo léo quyết định tiến hành phương án thí nghiệm tối ưu nhất. Nhưng cũng có trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu thích hợp, giáo viên có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án. Đối với ý kiến hay vấn đề đặt ra đơn giản, ít phương án hay thí nghiệm chứng minh thì giáo viên có thể cho học sinh trả lời trực tiếp phương án đề xuất. Phương án tìm câu trả lời hay thí nghiệm kiểm chứng đều xuất phát từ những sự khác biệt của các ý tưởng ban đầu (quan niệm ban đầu) của học sinh, vì vậy giáo viên nên xoáy sâu vào các điểm khác biệt gây tranh cãi đó để giúp học sinh tự đặt câu hỏi thắc mắc và thôi thúc học sinh đề xuất các phương án để tìm ra câu trả lời. Khi học sinh đề xuất phương án tìm câu trả lời, giáo viên không nên nhận xét phương án đó đúng hay sai mà chỉ nên hỏi ý kiến các học sinh khác nhận xét, phân tích. Nếu các học sinh khác không trả lời được thì giáo viên gợi ý những mâu thuẫn mà phương án đó không đưa ra câu trả lời được nhằm gợi ý để học sinh tự rút ra nhận xét và loại bỏ phương án; thảo luận và lựa chọn phương án khác tối ưu. Việc lựa chọn phương án tối ưu thích hợp nhất cũng rất quan trọng, điều này phụ thuộc vào mục tiêu của bài học, vấn đề cần nghiên cứu, đối tượng học sinh, cơ sở vật chất đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư suy nghĩ và quyết định.
    Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu:        
      Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để học sinh tiến hành. Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ. nghiên cứu tài liệu,... Bước đề xuất thí nghiệm nghiên cứu hay các giải pháp tìm câu trả lời của học sinh cũng là một bước khá phức tạp.
      Việc tiến hành thí nghiệm tương ứng với môđun kiến thức trong một tiết học có thể chỉ là một thí nghiệm hay nhiều thí nghiệm. Nếu chỉ có một thí nghiệm hay một moddun kiến thức thì thực hiện sẽ đơn giản hơn nhưng nếu có nhiều thí nghiệm thì phải làm lần lượt các thí nghiệm, mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để học sinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng). Vì nếu cho các em làm đồng loạt sau đó mới đưa ra kết luận thì các em sẽ dễ bị nhầm lẫn các kiến thức và khó khăn cho việc rýt ra kết luận.
     Khi làm thí nghiệm hay quan sát hoặc nghiên cứu tài liệu để tìm ra câu trả lời, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chú ý đến các thông tin chính để rút ra kết luận tương ứng với câu hỏi. Để thực hiện tốt bước này giáo viên cần chú ý những điểm sau:
          - Các đồ dùng, dụng cụ làm thí nghiệm phải đầy đủ về số lượng, chất lượng theo yêu cầu, sắp xếp khoa học, an toàn trong quá trình sử dụng.
          - Lệnh thực hiện phải rõ ràng, gắn gọn, dễ hiểu để giúp học sinh nhớ, hiểu và làm theo đúng hướng dẫn.
          - Đối với các thí nghiệm cần quan sát một số hiện tượng trong thí nghiệm để rút ra kêt luận, giáo viên nên lưu ý cho học sinh chú ý vào các hiện tượng hay phần thí nghiệm đó để lấy thông tin, nhắc nhở học sinh bám vào mục đích của thí nghiệm để làm gì, trả lời cho câu hỏi nào…
          - Đối với các thí nghiệm cần đo đạc, lấy số liệu, giáo viên yêu cầu học sinh ghi chép lại các số liệu để từ đó rút ra nhận xét.
          - Giáo viên phải quan sát, bao quát lớp khi học sinh làm thí nghiệm. Gợi ý vừa đủ nghe cho nhóm khi học sinh làm sai lệnh hoặc đặt chú ý vào những chỗ không cần thiết cho câu hỏi. Không nên nói to vì sẽ gây nhiễu cho các nhóm học sinh khác đang làm đúng vì tâm lý học sinh khi nghe giáo viên nhắc thì cứ nghĩ là giáo viên đang hướng dẫn cách làm đúng và nghi ngờ vào hướng thực hiện mà mình đang làm.
         - Đề cao vai trò của các nhóm trưởng trong việc điều hành nhóm, làm thế nào để các em đều được tham gia, quan sát, nêu ý kiến, kết luận vấn đề,....
         - Cần lưu ý tâm lí học sinh tiểu học, đó là các em rất hiếu động và tò mò nên khi làm thí nghiệm lại tự nảy sinh ra những ý đồ khác làm ảnh hưởng đến quá trình trọng tâm của việc làm thí nghiệm.
         - Cần chú ý vấn đề an toàn cho các em khi làm thí nghiệm, tránh để xẩy ra các trường hợp đáng tiếc.
      Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
      Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học. Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học. Trong hoạt động học của học sinh theo phương pháp "Bàn tay nặn bột", học sinh khám phá các sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, đưa ra dự đoán, thực hiện thí nghiệm, thảo luận với nhau và đưa ra kết luận như công việc của các nhà khoa học thực thụ để xây dựng kiến thức. Nhưng các kiến thức của học sinh không phải là các kiến thức khoa học mới với nhân loại mà là kiểm nghiệm lại kiến thức bằng vốn kiến thức, vốn sống của học sinh.
        Các kiến thức đã được kiểm nghiệm được các nhóm thống nhất và ghi lại vào bảng nhóm và trình bày lại. Các kiến thức này được đối chiếu với dự đoán ban đầu của các em, để thuận tiện cho việc theo dõi giáo viên nên hướng dẫn các em cách gắn kết quả trên bảng đối xứng nhau để khi đối chiếu sẽ dễ nhận biết. Trong phương pháp "Bàn tay nặn bột" thì việc đối chiếu kết quả sau khi thí nghiệm - kiểm nghiệm với dự đoán ban đầu của các em là đặc trưng không thể thiếu  được, qua việc đối chiếu này sẽ bồi dưỡng thêm cho các em niềm hứng thú và say mê nghiên cứu khoa học. Các em sẽ cảm thấy vui sướng và thích thú khi mình cũng chứng tỏ được một vấn đề khoa học nào đó./.

Tác giả bài viết: Dương Thị Trúc Quỳnh - GV trường TH Thị Trấn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

TIN MỚI NHẤT

HÌNH ẢNH

VIDEO CLIP

Loading the player...

MỜI QUẢNG CÁO

QUẢNG CÁO

LIÊN KẾT GIÁO DỤC

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang truy cậpĐang truy cập : 19

Hôm nayHôm nay : 39

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 16622

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 777489