A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Từ một số lý thuyết về đọc hiểu văn bản đến việc đọc hiểu các trích đoạn truyện kiều trong trường phổ thông

TỪ MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN ĐẾN VIỆC ĐỌC HIỂU CÁC TRÍCH ĐOẠN TRUYỆN KIỀU TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1. Một số lý thuyết đọc văn bản:
Trong số các tác giả và tác phẩm văn học trung đại được giảng dạy ở trường phổ thông, tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều có một vị trí quan trọng[i]. Không chỉ vì chiếm kỷ lục về số lượng trích đoạn, Truyện Kiều còn quan trọng vì kiệt tác này hàm chứa nhiều vấn đề tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam, cả vì đằng sau tác phẩm đã có một lịch sử nghiên cứu bình luận hết sức phong phú. Nếu giải  quyết tốt việc xây dựng phương pháp và lý thuyết đọc một tác phẩm như Truyện Kiều, chúng ta có thể xây dựng tiền đề vững chắc cho việc giảng dạy không chỉ văn học trung đại mà cả văn học hiện đại.
1.1. Lý thuyết mã hóa/ giải mã (encoding/decoding):
Đứng từ góc độ thông tin học, sáng tác là việc tác giả mã hóa thông tin gửi đến người đọc và đọc hiểu là quá trình độc giả giải mã văn bản. Để đọc hiểu đúng những gì tác giả muốn gửi gắm, điều lý tưởng là giữa tác giả và người đọc phải có chung một mã khóa. Nhưng yêu cầu lý tưởng đó trên thực tế rất khó thực hiện. Theo Stuart Hall, người gửi thông điệp được mã hóa các nghĩa theo các lý tưởng và quan điểm riêng của mình, và các thông điệp được người nhận giải mã phù hợp với lý tưởng và quan điểm riêng. Điều này dẫn đến chỗ có thể hiểu sai hay hiểu khác những thông điệp mà tác giả gửi gắm.
Vẫn theo S. Hall, người giải mã văn bản có thể ở vào ba vị trí khác nhau : 1)  cùng một trường văn hóa chủ đạo: đây là trường hợp cả hai bên có chung một hệ thống mã khóa, chung lý tưởng thẩm mỹ, văn hóa. Khi đó các thông điệp phát đi được tiếp nhận thuận lợi, ít có khả năng sai lệch. 2) vị trí thỏa thuận: người tiếp nhận có thể nhìn thông điệp có tính cá nhân và đọc là hành động đối thoại, thỏa thuận giữa hai bên. 3) vị trí đối lập: người tiếp nhận thông tin (người đọc) có thể giải mã thông tin dựa trên quan điểm xã hội riêng, thường gán cho văn bản những nghĩa mà có thể tác giả không dự định.
1.2. Lý thuyết phản hồi của người đọc (reader response theory): là sản phẩm của chủ nghĩa hậu cấu trúc, trái với lý thuyết Phê bình mới cho rằng nghĩa của văn bản đã tồn tại sẵn trong văn bản, lý thuyết này nhấn mạnh vai trò người đọc đến mức cho rằng, một văn bản không hề có sẵn một nghĩa nào đó trước khi nó được người đọc tiếp nhận; rằng người đọc tạo nghĩa riêng của mình qua sự tương tác với văn bản. Bởi vì người đọc đưa cảm xúc, các quan tâm, các kinh nghiệm sống, tri thức …của bản thân vào việc đọc nên mọi cách giải thích đều mang tính chủ quan và độc đáo duy nhất. Công việc của nhà phê bình lý thuyết phản hồi độc của giả là xem xét phạm vi và sự đa dạng của các phản ứng của người đọc và phân tích các cách đọc mà những độc giả khác nhau (còn gọi là các cộng đồng giải thích –interpretive communities) tạo nghĩa cho văn bản cả về phương diện phản hồi thuần túy cá nhân lẫn kế thừa các cách đọc đã có và các cách đọc chịu sự chế ước của văn hóa.  
1.3. Lý thuyết tiếp nhận (reception theory):  
Lý thuyết tiếp nhận cho rằng:  văn bản của tác phẩm không thay đổi nhưng nghĩa của nó thay đổi; nghĩa của tác phẩm là kết quả của mối quan hệ tương tác giữa người đọc và tác giả; việc tiếp nhận tác phẩm thông qua chế độ đối thoại giữa độc giả và văn bản; tác giả kết tinh kinh nghiệm sống và ghi dấu ấn của mình trong văn bản và tung nó về phía người tiếp nhận; nghĩa của văn bản thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào thời đại, vào cá nhân người tiếp nhận, vào việc người tiếp nhận thuộc về một nhóm, một cộng đồng tiếp nhận nào.
Nhìn chung, kinh nghiệm của người đọc có ba đặc điểm quan trọng : đặc điểm lịch sử, đặc điểm nhóm và đặc điểm cá nhân.
Đặc điểm lịch sử : mỗi thời đại lịch sử có một cách tiếp nhận riêng của thời đại mình. Thời Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều là thời trung đại còn thời chúng ta thuộc về thời hiện đại. Mỹ học thời Nguyễn Du thuộc phạm trù mỹ học phương Đông, còn mỹ học thời chúng ta tuy vẫn còn bảo lưu những nét truyền thống nhất định song chịu nhiều ảnh hưởng của mỹ học phương Tây. Hiển nhiên là các nhà nho cùng thời Nguyễn Du thuận lợi hơn chúng ta trong sự đọc hiểu Truyện Kiều vì giữa họ và Nguyễn Du có chung một ngôn ngữ văn học, một cách nghĩ về con người, về giới nam, giới nữ, về xã hội v.v…
Đặc điểm nhóm: Trong thời hiện đại, thế hệ cao tuổi, nhất là những người có vốn Hán học nhất định, sẽ tiếp nhận Truyện Kiều dễ dàng hơn thế hệ học sinh phổ thông. Học sinh phổ thông do sống trong không gian văn hóa và văn học hiện đại, thường dễ cảm nhận các tác phẩm văn học hiện đại hơn, song thiếu kiến thức nhiều mặt nên khó tiếp nhận văn học trung đại nói chung trong đó có Truyện Kiều. Đặc điểm nhóm còn liên quan đến các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội. Một người đọc từ lập trường phê bình xã hội sẽ giải thích số phận Thúy Kiều bằng các nguyên nhân xã hội, rằng chính xã hội phong kiến thối nát đã gây nên đau khổ cho nhân vật. Nhưng người đọc từ quan điểm phê bình hiện sinh lại chủ trương sở dĩ Thúy Kiều rơi vào lầu xanh là do nàng bán mình và việc bán mình của nàng do lựa chọn cá nhân của nàng, ngay Vương ông cha nàng cũng không đồng ý cho nàng làm việc đó. Thích Nhất Hạnh từ góc nhìn Thiền quán, từ quan niệm “tâm tạo nghiệp” của Phật giáo lại cho rằng nỗi bất hạnh của Thúy Kiều đã được định đoạt từ thưở ấu thơ khi nàng bắt đầu say mê khúc đàn bạc mệnh. Và mọi đường đi nước bước của nàng do chính “tâm” của nàng gây nên chứ chẳng có nguyên nhân xã hội nào.
Đặc điểm nhóm có thể liên quan đến các nhóm có lập trường thẩm mỹ -đạo đức khác nhau. Một ví dụ điển hình là xung đột quan điểm giữa Huỳnh Thúc Kháng và Lưu Trọng Lư quanh vấn đề trinh tiết của Thúy Kiều. Một bên là nhà nho mang cái nhìn đạo đức cố hữu của nhà nho, nhất là về đạo đức trinh tiết, và một bên là nhà thơ mới, lãng mạn, coi trọng con người cá nhân,  có cái nhìn khai phóng về con người.
Đặc điểm cá nhân : mỗi cá nhân có vốn sống, vốn tri thức khác nhau, có quan điểm đạo đức thẩm mỹ khác nhau, lứa tuổi và độ từng trải khác nhau nên lại có thể tiếp nhận văn bản ở các mức độ nông sâu khác nhau, có hứng thú với văn bản ở mức độ khác nhau.      
Lý thuyết tiếp nhận nhấn mạnh rằng mỗi người đọc có chân trời đợi riêng (horison of expectations). Điều đó cảnh báo rằng người đọc có thể tùy ý gán cho tác phẩm những giá trị, những ý nghĩa mà ngay cả tác giả cũng không ngờ đến.  nhằm lưu ý về khoảng cách tất yếu giữa tác giả và người đọc. Nếu thời đại sống và sáng tác của tác giả càng  xa thời đại người đọc, khoảng cách này giữa tác giả và người đọc càng lớn, gây khó khăn cho việc tiếp nhận tác phẩm, dẫn đến chỗ người đọc không hiểu đúng những gì tác giả thực sự muốn nói và thậm chí gán ghép các ý nghĩ của người hiện đại cho tác phẩm trung đại. Đến lượt mình, việc không hiểu đúng tác phẩm, việc đem cách nghĩ, cách sống, cách sáng tác hiện đại gán ghép cho tác phẩm trung đại thực tế là xuyên tạc tác phẩm.
Tóm lại, các lý thuyết trên đều nhấn mạnh ở mức độ khác nhau vai trò của người đọc, tính chủ động và do đó cả tính chủ quan của các lớp nghĩa mà người đọc cấp cho văn bản. Để phát huy tính chủ động của học sinh với tư cách người đọc, đồng thời hạn chế tính tùy tiện, vô căn cứ do thiếu hiểu biết của học sinh, rất cần đến vai trò hướng dẫn của giáo viên.  Giáo viên là người đọc có kinh nghiệm hơn, chuyên nghiệp hơn, cần giúp định hướng để phát huy sự năng động sáng tạo của học sinh.   
Công việc hàng đầu của giáo viên, theo tôi quan niệm,  là giúp học sinh phát huy tính năng động chủ quan đồng thời lại rút ngắn khoảng cách, tiếp cận sát chân trời chờ đợi của tác giả. Nhưng làm thế nào để tránh áp đặt, để giúp học sinh tự bản thân rút ra được các nét nghĩa văn bản qua thảo luận ? Vì những vấn đề tư tưởng và nghệ thuật của văn học trung đại rất khó với học sinh nên không thể để học sinh tự làm việc mà thiếu sự  dẫn dắt cần thiết.  Hệ thống các câu hỏi gợi ý cần được thiết kế sao cho trong chúng đã bao hàm mục đích khắc phục khoảng cách giữa người đọc-học sinh và tác giả văn học trung đại.                                 
2. Định hướng giảng dạy các trích đoạn:
Mỗi trích đoạn Truyện Kiều được dạy ở trường phổ thông có một đặc điểm riêng, nhưng chúng đều có những mã nghệ thuật riêng của thời trung đại và đồng thời thể hiện cá tính sáng tạo của riêng cá nhân Nguyễn Du. Vì vậy, việc giảng dạy các trích đoạn này phải giúp học sinh –những con người thời hiện đại-vượt qua được rào cản của tư duy nghệ thuật hiện đại để tiệm cận với tư duy nghệ thuật trung đại. Đồng thời, phải chỉ ra phần sáng tạo, phần đổi mới, phần đóng góp của thi hào Nguyễn Du cho lịch sử văn học trung đại.  
2.1. Trích đoạn Chị em Thúy Kiều :
2.1.1. Học sinh cần hiểu được bốn điều chủ yếu sau :
a) Tác giả văn học trung đại tả chân dung ngoại hình nhân vật thường nhấn mạnh thần (thần thái, bản chất) mà ít quan tâm đến tả thực, tả chi tiết. Trọng thần và coi nhẹ hình, đây là điều khác biệt so với việc tả ngoại hình nhân vật trong văn học hiện đại. Từ ngoại hình của mỗi chị em, Nguyễn Du muốn làm nổi bật thần thái của mỗi người, cái thần thái chỉ báo tính cách và báo trước số phận nhân vật.
b) Trước đây, các tài liệu hướng dẫn giảng dạy thường lưu ý đến bút pháp ước lệ, tượng trưng của Nguyễn Du trong trích đoạn này. Tuy nhiên, cần đi sâu hơn, so sánh chân dung ngoại hình của Thúy Kiều, Thúy Vân với chân dung ngoại hình của Mã Giám Sinh, Tú Bà…để thấy đối với nhân vật phản diện, tác giả trung đại như Nguyễn Du vẫn có thể tả chân, tả chi tiết ở mức độ nhất định chứ không hoàn toàn chỉ tả tượng trưng. Nhưng bút pháp tả thần vẫn được Nguyễn Du vận dụng nhất quán cho các nhân vật từ chính diện đến phản diện.
c) Nguyễn Du tả ngoại hình nhân vật chính diện với các chất liệu so sánh là các hiện tượng, sự vật từ thế giới thiên nhiên (liễu, hoa, trăng, thủy, sơn). Trái với ngoại hình nhân vật phản diện thường được tả thực. Đây là quan niệm phân biệt nhân cách lý tưởng và kẻ phàm tục của văn học trung đại.
d) Trong hai chị em, Thúy Kiều được giới thiệu kỹ hơn, nhiều phương diện hơn,  chỉ có Thúy Kiều được giới thiệu có tài. Nội dung của tài gồm tài năng về văn chương nghệ thuật (thơ, họa, nhạc). Khúc nhạc Bạc mệnh mà Thúy Kiều thường chơi báo trước số phận của nàng.  
e) Hiện tượng tiểu đối của câu thơ thơ lục bát như là một nét đặc trưng của thơ lục bát trong văn học  trung đại (lục bát Truyện Kiều, Lục Vân Tiên). Tiểu đối có tác dụng khiến cho câu thơ đăng đối và làm thay đổi nhịp điệu của truyện nôm thơ lục bát vốn dài hàng ngàn câu, khắc phục sự đều đều. Thơ lục bát hiện đại vẫn có thể tiếp tục sử dụng tiểu đối (ví dụ Việt Bắc của Tố Hữu sẽ học ở lớp 12).
2.1.2. Các câu hỏi gợi mở:
a) Giáo viên lấy các từ “trang trọng”, “đầy đặn”, “nở nang”, “đoan trang”, “sắc sảo”, “mặn mà”, “hoa ghen”, “liễu hờn” để gợi ý và dẫn dắt học sinh hiểu được thế nào là thần thái của mỗi nhân vật toát ra từ ngoại hình.
b) Giáo viên lấy các từ “khuôn trăng”, “nét ngài”, “hoa”, “ngọc”, “mây”, “tuyết”, “thu thủy”, “xuân sơn”, “liễu” để hướng học sinh tự khái quát đây là các hiện tượng sự vật từ thế giới thiên nhiên. Đến trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều sẽ trở lại liên hệ so sánh để học sinh thấy trong chân dung nhân vật phản diện không có hình tượng thiên nhiên.  
c) Giáo viên gợi ý học sinh so sánh số lượng câu thơ dùng tả Thúy Kiều và Thúy Vân để thấy Nguyễn Du quan tâm nhiều hơn đến Thúy Kiều. Gợi ý học sinh tự tìm hiểu Truyện Kiều , từ câu 2569 đến câu 2578 để thấy bản đàn mệnh Thúy Kiều thường say mê ám ảnh số phận nàng như thế nào. 
d) Câu thơ tiểu đối : giáo viên lấy một số câu thơ lục bát từ ca dao hay chính trong Truyện Kiều mà không có đối xứng để giúp học sinh hiểu thế nào là tiểu đối. Phân tích so sánh nhịp thông thường của câu thơ lục bát (thường chẵn 2/2/2 và 2/2/2/2) và nhịp của câu thơ lục bát có tiểu đối (3/3 và 4/4).  
2.2. Trích đoạn Cảnh ngày xuân
2.2.1. Học sinh cần hiểu được ba điểm chủ yếu sau:
a) hiểu được hai khái niệm lễ và hội của văn hóa truyền thống : lễ có nội dung tâm linh, tôn giáo, ở đây người sống đi tảo mộ, chăm sóc phần mộ của người thân đã mất. Hội có nội dung nghỉ ngơi, giải trí, gặp gỡ giữa nam thanh nữ tú (tài tử giai nhân).
b) vị trí chức năng của trích đoạn này trong Truyện Kiều :  Trích đoạn chuẩn bị cho hai sự kiện quan trọng đối với diễn biến của cuộc đời Thúy Kiều- nhân vật chính. Thúy Kiều sẽ chứng kiến nấm mồ Đạm Tiên như là biểu tượng về số phận bất hạnh của người tài sắc và cuộc gặp Kim Trọng như là một lối thoát khỏi số phận bất hạnh của những phụ nữ tài sắc không chồng. Nói chung, học sinh cần hiểu được rằng việc đặt một trích đoạn riêng rẽ vào tổng thể toàn tác phẩm, nắm được ý nghĩa của trích đoạn đối với toàn tác phẩm là một phần của phương pháp đọc các trích đoạn.  
c) nhận biết nghệ thuật kết hợp tự sự và trữ tình trong trích đoạn. Các câu thơ tả cảnh đều có kết hợp với sắc thái cảm xúc.
2.2.2. Các câu hỏi gợi ý:
a) giáo viên gợi ý học sinh liên hệ hai từ lễ và hội ngày nay để so sánh sự giống nhau và khác nhau , từ đó hiểu được hai nội dung khác nhau của lễ và hội.
b) giáo viên đặt câu hỏi : mục đích tả cảnh ở đây là gì ? gợi ý học sinh tự tìm hiểu đoạn thơ tiếp theo kể về tâm trạng của Thúy Kiều khi đứng trước nấm mộ Đạm Tiên và khi gặp Kim Trọng để hiểu được vị trí, chức năng của đoạn thơ Cảnh ngày xuân. Hai trạng thái buồn vui của nhân vật đã có sẵn trong bức tranh ngày xuân.
c) tự sự kết hợp trữ tình: giáo viên gợi ý học sinh tìm các từ ngữ kể, tả cảnh (cỏ non xanh, cành lê trắng, ngựa xe, áo quần, thoi vàng vó, tro tiền giấy, bóng ngả về  tây, chị em ra về, bước dần…) và các từ ngữ diễn tả cảm xúc (nô nức, dập dìu, thơ thẩn, ngổn ngang, nao nao). Người xưa gọi đây là “tâm cảnh”.   
2.3. Trích đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích
2.3.1. Học sinh cần hiểu được các điểm sau :
a) vị trí của trích đoạn trong Truyện Kiều : sau khi Thúy Kiều bị Tú Bà đánh đập vì không chịu tiếp khách, nàng phản ứng quyết liệt bằng cách đâm vào cổ tự tử, Tú Bà lập mưu để dùng Sở Khanh bẫy Thúy Kiều, nhằm buộc nàng phải tiếp khách tronh nhà chứa. Sau đoạn này, Sở Khanh sẽ xuất hiện và Thúy Kiều sẽ mắc bẫy. Nguyễn Du chuẩn bị tâm lý cho Thúy Kiều để lý giải vì sao nàng dễ dàng bị mắc lừa Sở Khanh đến như vậy.
b) tâm trạng chính của nhân vật trong trích đoạn là nỗi bơ vơ, cô đơn, nỗi buồn.
c) qua tâm trạng có thể thấy Thúy Kiều là người yêu tình nghĩa, người con hiếu thảo.
d) bút pháp tả cảnh để tả tình của văn học trung đại , đặc biệt  bút pháp tả không gian chịu ảnh hưởng của mô hình vũ trụ âm-dương và ngũ hành
e) điểm nhìn : tâm trạng nhân vật được nhìn từ bên trong, hay nói cách khác là ngôi tự sự chuyển sang ngôi thứ nhất. 
2.3.2. Các câu hỏi gợi ý:
a) giáo viên yêu cầu học sinh tự tìm hiểu vị trí của trích đoạn trong Truyện Kiều.
b) giáo viên gợi ý học sinh tìm hiểu tâm trạng nhân vật bằng việc chọn các từ ngữ cho học sinh phân tích : “xa”, “xa gần”, “bát ngát”, “xa xa”, “bơ vơ”, “bên trời”, các hình ảnh “hoa trôi man mác”; những tâm thế “bẽ bàng”, “rày trông mai chờ”, “xót”, “buồn”…
Giáo viên  gợi ý về nghệ thuật tả cảm giác buồn vì cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều qua các hình ảnh  có tính chất ẩn dụ như : cánh buồm lẻ loi xa xa ngoài khơi khi chiều về; những cánh hoa trôi dạt theo dòng nước; đám cỏ héo úa giữa không gian xanh của trời đất; và hình ảnh sóng ầm ầm đe dọa quanh chỗ ngồi của nàng.
c) giáo viên gợi ý để học sinh hiểu được người mà Thúy Kiều “tưởng nhớ” là  Kim Trọng (học sinh lại phải hiểu Kim Trọng là ai) và người được nàng “xót” là cha mẹ. Dù trong bất hạnh, Thúy Kiều tình nghĩa vẫn tưởng nhớ đến người yêu, Thúy Kiều hiếu thảo vẫn không quên xót thương cha mẹ.  Gợi ý để học sinh chú ý đến thứ tự : nỗi nhớ Kim Trọng xuất hiện  trước, nỗi xót xa cha mẹ xuất hiện sau. Học sinh thử lý giải tính hợp lý của trật tự này: Thúy Kiều đã phải hy sinh mối tình với Kim Trọng để bán mình, lấy tiền cứu cha, nên sự mất mát thật sâu sắc. Mặt khác, “tưởng” có mức độ nhẹ nhàng vừa phải so với  “xót”. Cuối cùng thì đạo hiếu vẫn mạnh hơn tình riêng.
d) bút pháp tả không gian trong trích đoạn là điển hình cho thơ trung đại: giáo viên gợi ý học sinh suy nghĩ về các cặp đối xứng không gian như non xa/trăng gần, cồn nọ/dặm kia,  mây/đèn (biến thể trên/dưới), về từ “bốn bề” có hàm nghĩa con người ở trung tâm. Giáo viên giải thích : đây là dạng không gian được tổ chức theo một quan niệm của thời trung đại chứ không phải tả ngẫu nhiên. Điều này có thể chứng minh bằng không gian được tả trong các bài thơ trung đại khác sẽ được học như Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi), Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến).  
(Thực ra, kiểu tổ chức không gian như vậy là chịu ảnh hưởng của triết học Dịch với hai cực Âm-Dương và quan niệm  ngũ hành (con người đứng ở trung tâm thuộc hành thổ nhìn ra bốn phương tương ứng bốn hành (Kim –phương Tây), Mộc (phương Đông), Hỏa (phương Nam), Thủy (phương Bắc). Nhưng điều này khó hiểu đối với học sinh phổ thông nên chưa cần giảng).  
e) bước đầu giảng cho học sinh hiểu thế nào là điểm nhìn và chuyển đổi điểm nhìn bằng cách đặt câu hỏi gợi ý:  trong trích đoạn này, ai là người nhìn, nghe, cảm, nghĩ (tác giả hay nhân vật Thúy Kiều ?). Căn cứ ? Học sinh sẽ dễ dàng nhận ra các cảnh vật, tâm trạng được nhìn, được cảm từ góc nhìn của chính nhân vật Thúy Kiều.
Một vấn đề nữa, không quá phức tạp, giáo viên có thể lưu ý học sinh : trong thơ trung đại, chủ ngữ thường bị lược bỏ. Ví dụ, không thấy có chủ ngữ của hành động “buồn trông”, nhưng trong ngữ cảnh đoạn thơ, người đọc có thể đoán chủ thể hành động là Thúy Kiều vì nàng là người tưởng nhớ  đến Kim Trọng và xót thương cha mẹ.
2.4. Mã Giám Sinh mua Kiều
2.4.1. Đây là bài tự học có hướng dẫn nên giáo viên không cần giảng sâu và chi tiết. Học sinh cần hiểu một vài ý sau:
a) vị trí của trích đoạn : Vì gia đình Thúy Kiều bị một vụ án oan sai, bố và em trai bị bọn quan lính trói, đánh đập, tình thế đòi hỏi có tiền hối lộ cho chúng để chúng tha bố và em, Thúy Kiều đã chấp nhận bán mình. Được người mai mối dẫn dắt, Mã Giám Sinh đến mua Kiều, về danh nghĩa làm vợ, nhưng rồi ta sẽ biết, thực chất Mã Giám Sinh kinh doanh nhà chứa, mua Thúy Kiều về để bắt nàng tiếp khách trong nhà chứa. 
b) tâm trạng của Thúy Kiều : đau khổ, ngượng ngùng cho thân phận và gia cảnh. Lưu ý là trong thời trung đại, việc gả bán con gái là thực tế phổ biến nên nỗi buồn, nỗi đau khổ của nàng do hoàn cảnh bản thân và gia đình chứ không vì chuyện mua bán. Bản thân Thúy Kiều phải hy sinh tình yêu rất đẹp với Kim Trọng là “nỗi mình”, gia đình nàng phải chịu một vụ án oan sai là “nỗi nhà”.   
c) về nghệ thuật tự sự, cần giảng cho học sinh hiểu quan niệm “người kể chuyện biết trước”. Đây là điểm mấu chốt giúp giải thích nghệ thuật của trích đoạn. Nguyễn Du biết trước Mã Giám Sinh là kẻ giả danh (giả danh là học sinh trường Quốc tử giám để lừa đảo) nên ông tỏ thái độ khinh bỉ qua cách miêu tả nhân vật này.
2.4.2. Các câu hỏi gợi ý:
a) giáo viên yêu cầu học sinh tự tìm hiểu vị trí của trích đoạn trong Truyện Kiều
b) giáo viên chọn các từ ngữ yêu cầu học sinh phân tích để chỉ ra tâm trạng của nhân vật. Từ tả ngoại hình và hành động  như bước đi chậm, đẫm nước mắt “một bước/ lệ hoa mấy hàng”, “thẹn”, “gương mặt dày”; các từ tả tâm trạng như “tức”,  “ngại ngùng”, “nỗi mình”, “nỗi nhà”, “nét buồn”. Học sinh phân tích các từ chỉ nguyên nhân của tâm trạng: nỗi mình, nỗi nhà.
c) giáo viên gợi ý cho học sinh bằng 2 câu hỏi:
-tìm các từ ngữ chỉ báo cho biết thái độ của Nguyễn Du đối với Mã Giám Sinh ? gợi ý: học sinh phân tích  các từ tả ngoại hình nhân vật như “trạc ngoại tứ tuần”, “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao” (thời xưa, ngoài bốn chục là độ tuổi sắp lên lão, lên cụ phải tỏ ra nghiêm trang, đạo mạo, nhưng Mã Giám Sinh cố tỏ ra trẻ trung để đánh lừa mọi người, kể cả Thúy Kiều nên Nguyễn Du tố cáo bản chất lừa đảo này). Các từ tả hành động của nhân vật: học sinh phân tích các từ “ngồi tót sỗ sàng”, “cò kè bớt một thêm hai” để hiểu các từ ngữ này tố giác bản chất lưu manh, con buôn của họ Mã.  
-việc tác giả Nguyễn Du tỏ thái độ với nhân vật Mã Giám Sinh nói lên đặc điểm gì của nghệ thuật tự sự trung đại ?  giáo viên đặt câu hỏi : nếu ta chưa biết một người là ai mà ta lại tỏ thái độ yêu ghét thì có hợp lý không ?
Toàn bộ thái độ khinh bỉ của tác giả Nguyễn Du đối với nhân vật Mã Giám Sinh cho thấy ông là người kể chuyện theo nguyên tắc đã biết trước biết hết về nhân vật. Sự thông cảm, thương xót dành cho Thúy Kiều  cũng cho thấy ông biết trước những trắc trở đang chờ đợi Thúy Kiều sau cuộc mua bán này.
Đây là một nét đặc trưng quan trọng của nghệ thuật tự sự trung đại.
2.5. Trích đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán:
2.5.1. Học sinh cần hiểu được các điểm sau:
a) vị trí của trích đoạn trong Truyện Kiều : Trong quãng đời lưu lạc tủi nhục ở chốn thanh lâu, Thúy Kiều gặp người anh hùng Từ Hải. Được biết những kẻ bất lương  đã gây đau khổ cho Thúy Kiều và những người có thiện tâm giúp đỡ cưu mang nàng, Từ Hải  cho quân đi bắt tất cả bọn người bạc ác về lập phiên tòa trừng trị chúng và mời những người đối xử tốt với nàng về cho nàng báo đền ơn nghĩa. Giới phê bình thường gọi vắn tắt đây là phiên tòa công lý.
Học sinh cũng cần biết Thúc Sinh và Hoạn Thư là ai, có quan hệ thế nào với nhân vật chính Thúy Kiều để hiểu đúng trích đoạn.
b) Nhân vật chính trong trích đoạn này là Thúy Kiều. Tác giả Nguyễn Du có ý thức diễn tả sự thể hiện nhân cách Thúy Kiều qua cách ứng xử với hai nhân vật vốn từng có quan hệ với nàng, với nhiều kỷ niệm vui buồn, đau đớn, nhục nhã, uất hận.
c) nghệ thuật tả nhân vật ở trích đoạn này chủ yếu thông qua ngôn ngữ của nhân vật.
d) nhân vật Thúy Kiều và Hoạn Thư ở trích đoạn thể hiện sự sáng tạo của Nguyễn Du : cả hai nhân vật đều thuộc loại nhân vật nhiều chiều, phong phú trong tính cách. Thúy Kiều khi hiền lành, khi sắc sảo, quyết liệt, khi nung nấu ý nghĩ trả thù  khi lại thừa nhận lẽ phải ở Hoạn Thư.
Rất khó xếp Hoạn Thư  vào nhóm phản diện hay chính diện như các nhân vật khác của Truyện Kiều. Qua lời kêu ca của Hoạn Thư, Thúy Kiều hiểu rằng thị tuy độc ác nhưng không táng tận lương tâm, vẫn còn giữ lại một chút phẩm chất người. Vì vậy, Thúy Kiều đã tha bổng cho Hoạn Thư ngay tại phiên tòa, khác với Kim Vân Kiều truyện , nơi Hoạn Thư bị Thúy Kiều đánh đòn rất đau trước khi tha. Có người còn cho rằng trường hợp Hoạn Thư được tha bổng dạy cho người đọc bài học về luật nhân quả, làm điều thiện sẽ gặp điều thiện, làm điều ác sẽ gặp điều ác.
2.5.2.  Các câu hỏi gợi ý:
a)  giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu vị trí của trích đoạn.
b) giáo viên yêu cầu học sinh phân tích câu “cho gươm mời đến Thúc lang” để hiểu được địa vị quan tòa của Thúy Kiều và quân uy của Từ Hải lúc này. Từ Hải đã lập phiên tòa, giao cho Thúy Kiều báo ân báo oán. Để gợi ý học sinh hiểu khái niệm “nghĩa” trong câu “nghĩa nặng nghìn non”, giáo viên có thể nêu câu hỏi như : có khi nào chúng ta làm một việc tốt cho người khác mà không đòi hỏi, không tính toán thiệt hơn, được mất ? Đó chính là việc làm vì nghĩa.  Người xưa đối đãi với nhau trên tinh thần vì nghĩa. Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều ra khỏi nhà chứa nên Thúy Kiều báo đáp lại bằng ân nghĩa, với “gấm trăm cuốn bạc nghìn cân”.  Bất nhân bất nghĩa sẽ bị trừng phạt-đó là tư tưởng về công lý thời xưa.
          Giáo viên gợi ý cho học sinh tìm hiểu: những câu nói của Thúy Kiều như “phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”, “càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều” cho biết dự định gì của Thúy Kiều đối với Hoạn Thư ?
          Thúy Kiều rõ ràng định báo thù một cách sâu sắc, tương xứng với những gì độc ác, nhẫn tâm mà Hoạn Thư đã làm với mình.
          Giáo viên đặt câu hỏi : Hoạn Thư đã  trình bày như thế nào khiến Thúy Kiều tha bổng ?
Gợi ý cho học sinh phân tích câu “khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca” và lời bình của “quan tòa” Thúy Kiều về Hoạn Thư “khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”. Nhưng lý do Thúy Kiều tha bổng cho Hoạn Thư ngay tại phiên tòa không đơn giản chỉ vì Hoạn Thư khôn ngoan, khéo nói, biết tự bào chữa. Vì vậy, cần gợi ý cho học sinh phân tích nội dung lời nói của Hoạn Thư để thấy trong đó có nhắc đến việc làm có thể phần nào giống như việc nghĩa mà Hoạn Thư đã làm cho Thúy Kiều.
Nghĩ cho khi các viết kinh
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Hai câu này rất vắn tắt nên nếu không đọc Truyện Kiều thì khó hiểu.  Hoạn Thư nói : xin chị nghĩ lại khi tôi tha cho chị ra gác Quan Âm (Quan Âm các ) chép Kinh Phật và trong đêm chị trốn khỏi nhà tôi, mang theo cả đồ thờ vàng bạc mà tôi không cho tay chân đuổi theo bắt lại.
Đến đây Thúy Kiều đã hiểu rằng vậy thì Hoạn Thư cũng có những cử chỉ tình nghĩa nhất định nên cho tha bổng ngay tại phiên tòa.  Thúy Kiều không phải là người cố chấp, “nhỏ nhen” mà khi nhận ra lẽ phải thì có thể thay đổi ý định báo thù.
c) ngôn ngữ nhân vật : trong trích đoạn, hai nhân vật Thúy Kiều và Hoạn Thư có ngôn ngữ rất riêng. Giáo viên gợi ý bằng các câu hỏi để học sinh tìm hiểu.
          -Lời nói của Thúy Kiều với Thúc Sinh cho biết nàng là người như thế nào  ?
          -Thúy Kiều bộc lộ tính cách như thế nào trong những lời nói về Hoạn Thư và nói với Hoạn Thư ?
          -Ngôn ngữ của Hoạn Thư cho thấy tính cách gì ở người phụ nữ này ? 
          Trả lời các câu hỏi như vậy, học sinh sẽ nhận thấy Thúy Kiều là người tình nghĩa nhưng cũng rất sắc sảo, quyết liệt trong đấu tranh, song cũng không cố chấp mà có thể thay đổi. Hoạn Thư ở vị thế bị cáo nhưng cũng đầy tỉnh táo, khôn ngoan, bình tĩnh, Hoạn Thư chứng minh mình vẫn còn một chút lương tâm, nhân ái chứ không chỉ có tàn bạo, độc ác, vận dụng mọi lý lẽ (chuyện giữa Hoạn Thư và Thúy Kiều trước đây chỉ là chuyện ghen tuông phụ nữ, Hoạn Thư vốn kính trọng Thúy Kiều).   
d) giáo viên nêu câu hỏi gợi ý để học sinh hiểu được quan điểm nghệ thuật về con người của Nguyễn Du:
-Thúy Kiều thay đổi như thế nào ngay trong tiến trình phiên tòa báo ân báo oán ?
-Vì sao Hoạn Thư được tha ngay dưới trướng ?
          Nhân vật của Nguyễn Du nói lên triết lý về tính phức tạp, phong phú, đầy mâu thuẫn của cuộc sống chứ không một chiều, cố định, đơn giản. Đó cũng là một phương diện đem lại thành công cho Truyện Kiều.  
2.6. Trích đoạn Trao duyên
2.6.1.  Học sinh cần hiểu được các điểm sau:
a) vị trí của trích đoạn trong Truyện Kiều : trích đoạn từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều. Sau khi bán mình cho Mã Giám Sinh, lấy tiền hối lộ cho bọn sai nha để chúng thôi không giam cầm, đánh đập bố và em trai, tình yêu thiêng liêng với Kim Trọng tan vỡ, Thúy Kiều nhờ cậy em gái là Thúy Vân lấy chàng Kim Trọng để trả nghĩa người yêu.  
So với Kim Vân Kiều truyện thì Truyện Kiều có sự thay đổi đáng chú ý: trong Kim Vân Kiều truyện, cảnh trao duyên diễn ra trước khi Thúy Kiều quyết định bán mình. Nguyễn Du có lý hơn khi đặt sự kiện này sau việc bán mình. Về tâm lý, rõ ràng khi việc bán mình thành việc đã rồi, không thay đổi được nữa thì nỗi đau vì phải hy sinh tình yêu mới thật sự thấm thía, sâu sắc.
b) Trích đoạn cho thấy một phương diện khác của vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều, giúp người đọc hiểu được sự phong phú, đa dạng của nhân vật. Ở sự kiện “trao duyên” ta bắt gặp một người con gái có đức hy sinh và vị tha, đặc biệt  có tình yêu sâu sắc và mãnh liệt. Không phải Thúy Kiều chỉ biết có hy sinh. Nàng còn có tình yêu sâu sắc, nghĩa là biết sống cho riêng mình.  Đây là sáng tạo nghệ thuật xuất sắc của Nguyễn Du ít gặp trong văn học trung đại.
c) Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ nhân vật để khắc họa tâm lý rất thành công. Đáng chú ý nhất là sự thay đổi linh hoạt của ngôn ngữ đối thoại : từ đối thoại với Thúy Vân chuyển sang đối thoại với Kim Trọng (trong tưởng tượng); từ đối thoại sang độc thoại nội tâm. Các câu đối thoại thường xen kẽ với các câu độc thoại cũng là một nét đặc sắc của nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật của Nguyễn Du.
2.6.2. Các câu hỏi gợi ý:
a) Học sinh tự tìm hiểu  vị trí của trích đoạn trong tác phẩm. Gợi ý : đọc lại trích đoạn Mã Giám Sinh mua Kiều.
b) gợi ý học sinh phân tích ngôn ngữ nhân vật để nhận thấy
- Thúy Kiều là một người con gái có đức hy sinh và vị tha. Một số câu hỏi : Cử chỉ “lạy” rồi “thưa” của người chị với em gái có ý nghĩa gì ? Việc Thúy Kiều hy vọng Thúy Vân “Xót tình máu mủ” để thay nàng kết duyên với Kim Trọng nói lên đặc điểm gì của tình yêu và hôn nhân thời trung đại ? Mấy chữ “ngậm cười chín suối” nói lên phẩm chất nào của Thúy Kiều ? Tại sao Thúy Kiều lại tự cho rằng mình “phụ” Kim Trọng ?
- Thúy Kiều có tình yêu sâu sắc và mãnh liệt:  
Câu hỏi: Sau khi nói lời nhờ Thúy Vân “trả nghĩa” cho Kim Trọng, Thúy Kiều nói đến các vật kỷ niệm với Kim Trọng. Hãy lý giải ý nghĩa của các vật kỷ niệm đó.
Trong trích đoạn này, Thúy Kiều nhiều lần liên tưởng đến cái chết. Phải chăng đối với nàng, cuộc sống khi không có tình yêu với Kim Trọng đồng nghĩa với cái chết ?
c) ngôn ngữ đối thoại với Thúy Vân : yêu cầu học sinh phân tích các từ “lạy”, “xót tình máu mủ”.
- ngôn ngữ đối thoại (tưởng tượng) với Kim Trọng : phân tích các từ ngữ “trăm nghìn lạy”, “thiếp đã phụ chàng” để thấy tình yêu sâu nặng và đức hy sinh.
- Ngôn ngữ độc thoại: học sinh cần phân tích các câu “bây giờ trâm gãy hương tan/Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân”, “phận bạc như vôi” để thấy tiếng nói thương thân trách phận đau đớn.
          - Các câu đối thoại thường xen kẽ với các câu độc thoại: giáo viên cần gợi ý cho học sinh phân tích các trường hợp như :
Thúy Kiều nói với em :
Dù em nên vợ nên chồng
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên
Nhưng ngay sau đó lại là lời tự tình:
   Mất người còn chút của tin
Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Thúy Kiều nói: 
                          Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Đó là Thúy Kiều nói với Thúy Vân. Nhưng tiếp liền theo đó :
      Hồn còn mang nặng lời thề
Nát thân bồ liễu , đền nghì trúc mai
Lại là lời độc thoại của nàng.
Hay
     Trăm nghìn gửi lạy tình quân
Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi
Đây là lời nói với Kim Trọng, song sau đó lại là:
   Phận sao phận bạc như vôi
Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.
Nghệ thuật  phối hợp ngôn ngữ đối thoại và độc thoại này rất tinh vi, cần có sự hướng dẫn để học sinh hiểu đúng.
2.7. Trích đoạn Nỗi thương mình
2.7.1. Học sinh cần hiểu:
a) vị trí của trích đoạn : đây là nỗi lòng của Thúy Kiều khi bị bắt buộc phải tiếp khách ở lầu xanh của Tú Bà, một thân phận phụ nữ rất khó nói đối với nhiều nhà nho, thậm chí bị nhiều nhà nho lên án.
 b) trích đoạn cung cấp thêm một góc nhìn về sự đa dạng, nhiều chiều trong tính cách nhân vật Thúy Kiều. Người phụ nữ bị đẩy vào thanh lâu, nhà chứa nhưng tâm hồn cao thượng, thanh sạch, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, thân không trinh nhưng tâm trinh.
c) nghệ thuật thể hiện tâm trạng nhân vật được Nguyễn Du sử dụng khá linh hoạt, biến hóa, nhiều tầng bậc. Điểm nhìn từ bên trong nhân vật (phát ngôn từ ngôi thứ nhất), các hình ảnh ước lệ tượng trưng giúp nói nhiều điều tế nhị, các cấp độ khác nhau của nghệ thuật đối xứng …
d) việc thông cảm, bênh vực của Nguyễn Du cho thân phận kỹ nữ thanh lâu là một thách thức quan trọng đối với quan niệm đạo đức Nho giáo. Đây là một điểm vượt thoát mỹ học của nhà nho, đổi mới quan điểm về người phụ nữ.
2.7.2. Các câu hỏi gợi ý:
a) yêu cầu học sinh tự tìm hiểu vị trí trích đoạn
b) gợi ý học sinh tìm hiểu, phân tích qua các từ ngữ chỉ thân phận kỹ nữ lầu xanh phải tiếp khách : cuộc say, trận cười, sớm đưa, tối tìm.
          Học sinh phân tích các từ ngữ “thương mình xót xa”, “mặc người”, “mình nào biết xuân là gì” để trả lời câu hỏi : tâm thế của Thúy Kiều trong chốn thanh lâu.
c) câu hỏi gợi ý
-Vì sao tác giả dùng hàng loạt các thành ngữ  như “bướm lả ong lơi”, “lá gió cành chim”, “bướm chán ong chường”, “mưa Sở mây Tần”, “gió tựa hoa kề” ?
- qua chữ “mình” nhắc nhiều lần trong trích đoạn, hãy cho biết tâm sự được nhìn từ điểm nhìn của ai ? Ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật hay gián tiếp của tác giả người kể chuyện ? Ý nghĩa của điểm nhìn này.
- hãy lập bảng thống kê các dạng đối trong trích đoạn và phân tích ý nghĩa  :
+ gợi ý: tìm các dạng tiểu đối khác nhau như bướm lả /ong lơi, dày gió/dạn sươngcuộc say đầy tháng/trận cười suốt đêm. Phân tích, so sánh: viết bướm ong lơi lả không gây chú ý bằng cấu trúc đối.  
Đối giữa hai câu thơ : Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Đối giữa hai đoạn thơ
          Đòi phen gió tựa hoa kề
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng thâu
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ?//
Đòi phen nét vẽ câu thơ
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa
Vui là vui gượng kẻo là
Ai tri âm đó mặn mà với ai ?
 e) câu hỏi gợi ý: tại sao sự cảm thông chia sẻ với nhân vật Thúy Kiều-người kỹ nữ thanh lâu - lại có thể xem là thách thức của Nguyễn Du đối với quan điểm đạo đức Nho giáo ?
2.8. Trích đoạn Chí khí anh hùng
2.8.1. Học sinh cần hiểu
a) Vị trí của trích đoạn : đây là đoạn từ câu 2213 đến 2230, khi Thúy Kiều lần thứ hai rơi vào lầu xanh thì Từ Hải xuất hiện đem lại thay đổi lớn lao cho cuộc đời nữ nhân vật.
b) sự khác nhau giữa nhân vật Từ Hải của Truyện Kiều và Từ Hải của Kim Vân Kiều truyện : trong Truyện Kiều,  hình tượng  Từ Hải là một người anh hùng, còn ở Kim Vân Kiều truyện, Từ Hải được xây dựng như một tướng cướp.
c) Nguyễn Du đưa ra một quan niệm mới mẻ về người anh hùng khi giới thiệu hạnh phúc vợ chồng nồng nàn. Mặt khác, là anh hùng thì suy nghĩ, hành động của chàng cũng phi thường. Chí khí lập công danh sự nghiệp lớn lao, khát vọng khẳng định con người  phi thường,  ngôn ngữ và hành động dứt khoát mạnh mẽ là những biểu hiện đẹp, đặc sắc ở nhân vật này.
d) kết hợp một cách nghệ thuật  ngôn ngữ tác giả  và ngôn ngữ nhân vật là một nét đặc trưng của ngôn ngữ trong trích đoạn.
2.8.2. các câu hỏi gợi ý:
a) yêu cầu học sinh tự tìm hiểu vị trí của trích đoạn trong Truyện Kiều.
b)  giáo viên giới thiệu qua về sự khác nhau giữa nhân vật Từ Hải của Truyện Kiều và Từ Hải của Kim Vân Kiều truyện.
c) quan niệm của Nguyễn Du về người anh hùng: giáo viên nêu câu hỏi để học sinh tìm hiểu và phân tích.
- học sinh tìm và phân tích  các từ ngữ chỉ sự quyết đoán, dứt khoát, mạnh mẽ của Từ Hải (ví dụ như thoắt, quyết lời, dứt áo, lên đường thẳng rong)
-học sinh tìm và phân tích các từ ngữ chỉ sự hào hoa, lãng mạn của Từ Hải (ví dụ “hương lửa đang nồng”,  “rước nàng nghi gia” nói lên tình yêu và sự tôn trọng của Từ Hải dành cho Thúy Kiều, nàng là vợ của người phi thường thì cũng xứng đáng được hưởng một cuộc sống phi thường ).
- từ ngữ hình ảnh hình dung mơ ước lớn lao của Từ Hải (lòng bốn phương, mười vạn tinh binh, tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường, bốn bể).
Giáo viên phân tích để học sinh hiểu : quan niệm anh hùng như của Nguyễn Du là quan niệm mới mẻ, có tính cách tân táo bạo so với hoàn cảnh văn hóa và chính trị xã hội trong đó Nguyễn Du sống, sáng tác (chống chế độ phong kiến thối nát, quan niệm nữ quyền…). 
          d) ngôn ngữ tác giả
- ngôn từ định danh nhân vật : yêu cầu học sinh phân tích các từ “trượng phu”, “chim bằng”, “phi thường” nhằm chỉ ra sự ngưỡng mộ, khâm phục của tác giả dành cho nhân vật.
- Ngôn ngữ tả không gian hoạt động của người anh hùng : học sinh phân tích các không gian “bốn phương”, “trời bể mênh mang”, “gió mây”, “bốn bể”, không gian  có tính vũ trụ tương ứng với tầm vóc anh hùng.
Ngôn ngữ nhân vật :
 - gợi ý học sinh tìm các từ ngữ mà Từ Hải phát ngôn để chỉ phẩm chất phi thường của người anh hùng. Người anh hùng không muốn bị hạnh phúc vợ chồng ràng buộc chí lớn; chàng vững tin vào sự nghiệp mau chóng thành công; Từ Hải muốn có điều kiện đối đãi xứng đáng với các phẩm chất của Thúy Kiều-một phụ nữ bị xã hội phong kiến đày đọa, chà đạp. Đây đều là những nét phi thường cần được phân tích. 
2.9. Trích đoạn Thề nguyền
Đây là trích đoạn đọc thêm nên có thể nằm trong diện giảm tải, không yêu cầu đầu tư nhiều. Ở đây chúng tôi chỉ gợi ý một số hướng phân tích, bình giảng trích đoạn.
2.9.1. Học sinh cần hiểu
a) vị trí trích đoạn : từ câu 431 đến câu 452, kể về lần gặp gỡ thứ tư của Thúy Kiều –Kim Trọng.
b) nội dung chính của trích đoạn : Thúy Kiều và Kim Trọng làm lễ thề nguyền trước trời đất. Mục đích của Thúy Kiều là muốn dựa vào tình yêu với Kim Trọng được trời đất chứng giám để chống lại số mệnh bất hạnh mà nàng luôn linh tính sẽ xảy ra với mình. Nhưng đằng sau động cơ có vẻ tâm linh đó là một tình yêu mạnh mẽ, táo bạo, chủ động của người con gái dám vượt qua hàng rào lễ giáo khắt khe để đến với tình yêu.
2.9.2. câu hỏi gợi ý
a) học sinh tự tìm hiểu vị trí trích đoạn
b) học sinh tìm từ ngữ nói lên sự ám ảnh của Thúy Kiều về số mệnh bất hạnh
- học sinh tìm từ ngữ nói lên sự chủ động, mạnh dạn, quyết liệt của Thúy Kiều đến với tình yêu.
- học sinh phân tích ý nghĩa của không gian đêm là bối cảnh cho tình yêu đôi lứa.  
KẾT LUẬN
Như đã nói, lý thuyết tiếp nhận khẳng định sự chủ động, sáng tạo, tính chủ quan của người đọc trong việc tạo nghĩa cho văn bản. Tuy nhiên, vì lứa tuổi học sinh phổ thông còn thiếu nhiều kinh nghiệm và tri thức đọc hiểu văn bản, nhất là những văn bản trung đại như các trích đoạn Truyện Kiều nên rất cần có sự trợ giúp, gợi ý của giáo viên là người đọc có kinh nghiệm và tri thức cũng như tầm đón đợi thuận lợi hơn học sinh. Các câu hỏi chúng tôi nêu lên trên chỉ là một số gợi ý của một người đọc văn học trung đại chứ không phải là các nhận xét mang tính chân lý. Sáng tạo và tạo nghĩa cho văn bản là quyền của tất cả mọi người đọc.

Tài liệu tham khảo
  1. Trần Nho Thìn-Trần Ngọc Trâm, Phân tích tác phẩm Ngữ văn 9, Nxb Giáo dục, 2014.
Trần Nho Thìn (chủ biên), Lê Nguyên Cẩn, Phạm Thu Yến, Phân tích tác phẩm Ngữ văn 10, Nxb Giáo dục, 2014.


[i] Bắt đầu từ tập 1, Ngữ văn 9, học sinh được học bài về tác giả Nguyễn Du và tóm lược nội dung Truyện Kiều cùng 5 trích đoạn. Ở Ngữ văn 10, tập 2, có bài riêng về Truyện Kiều và 4 trích đoạn. Tổng cộng có 9 đoạn trích và hai bài giới thiệu về tác giả và tác phẩm. 


Tác giả: PGS, TS Trần Nho Thìn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguồn: huongkhe.edu.vn
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Giáo dục
Liên kết
Thống kê truy cập
Hôm nay : 0
Tháng 12 : 3.116